BỆNH ÁN ĐIỀU TRỊ BỒN CHỒN BỨT RỨT KHÔNG YÊN - DANH Y TÔN MẠN CHI
CASE LÂM SÀNG
Bệnh nhân nữ, 63 tuổi, quê tại Liêu Thành, tỉnh Sơn Đông.
Lần khám đầu tiên: ngày 17 tháng 4 năm 2011.
Quan sát thấy hình thể khỏe mạnh, sắc mặt đỏ sạm, thần sắc bất an, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng nhớt, cảm giác mệt mỏi, mạch ở cả hai tay đều huyền, mềm và ngắn. Bệnh nhân kể rằng đã bị bồn chồn bứt rứt hơn một tháng nay, tính tình dễ bị kích động, phát bệnh nhiều lần trong ngày, ban đêm nặng hơn, từ khoảng giờ Sửu (1-3h) đến rạng sáng thì nhất định phát bệnh. Khi phát bệnh, người bệnh đột nhiên tung chăn ngồi dậy, ra ngoài sân đi tới đi lui, bồn chồn bứt rứt không chịu nổ, đã tìm đến nhiều nơi để điều trị nhưng không có hiệu quả, đến mức tự cho rằng bản thân chắc chắn sẽ chết. Bệnh viện chẩn đoán bà ấy mắc bệnh mạch vành, viêm dạ dày, polyp túi mật. Hỏi kỹ thì bệnh nhân thấy ăn uống bình thường, gần đây cơ thể mệt mỏi không có sức, có thể ngủ được, lòng bàn tay và bàn chân nóng đỏ, đại tiện thiên khô, 1 - 3 ngày mới đi một lần, tiểu tiện hơi nhiều lần.
Phương thuốc: Bán hạ 10g, hoàng liên 2g, phục linh 10g, chỉ thực 10g, sài hồ 5g, xuyên khung 5g, qua lâu 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, kê 3 thang.
Lần khám thứ hai: ngày 21 tháng 4 năm 2011.
Sau khi uống phương thuốc trên, sáng hôm sau bệnh nhân bị tiêu chảy vài lần, đến chiều thì hết bồn chồn, nhưng sau một ngày thì bị tái phát. Hiện nay vùng thượng vị đầy tức, muốn ăn nhưng không dám ăn nhiều, từ hôm qua đến nay chưa đi đại tiện, trong lòng hoang mang lo sợ, chỉ sợ phát bệnh trở lại.
Phương thuốc: Bán hạ 10g, hạnh nhân 10g, hoàng liên 2g, phục linh 10g, chỉ thực 10g, sài hồ 5g, xuyên khung 5g, thương truật 10g, thần khúc 3g, sơn chi 10g, đương quy 10g, khương hoạt 5g, trúc diệp và bạc hà là thuốc dẫn (3g, cho vào sắc sau cùng khi còn 3 phút). Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang, kê 5 thang.
Lần khám thứ ba: ngày 26 tháng 4 năm 2011.
Sau khi uống đơn thuốc thứ 2, các ngày 22, 25 và hôm nay phát tác mỗi ngày một lần. Hai ngày gần đây không đi đại tiện, để thông đại tiện thì mỗi ngày tự uống mật ong, dẫn đến ăn uống không ngon miệng, đại tiện phân màu xanh lỏng như nước, tiểu tiện bình thường.
Phương thuốc: Mạch môn 10g, hoàng cầm 5g, hoàng bá 5g, phục linh 10g, cam thảo 5g, mộc thông 10g, sơn chi 10g, trạch tả 10g, chỉ xác 10g, hoàng liên 3g, sài hồ 10g, trúc diệp và bạc hà là thuốc dẫn (3g, cho vào sắc sau cùng khi còn 3 phút). Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang, kê 3 thang.
Lần khám thứ tư: ngày 28 tháng 4 năm 2011.
Sau khi uống phương thuốc trên thì không còn phát bệnh nữa, ăn uống bình thường, đại tiện đều, 2 đến 3 ngày một lần.
Phương thuốc: Giữ nguyên phương thuốc trước, kê 5 thang, trúc diệp và bạc hà là thuốc dẫn, sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang.
Phân tích:
Hoa Nguyên Hóa trong sách “Trung Tàng Kinh” chỉ rõ: “Tam tiêu tổng lĩnh ngũ tạng lục phủ, doanh vệ kinh lạc, nội ngoại tả hữu thượng hạ chi khí cơ dã; tam tiêu thông, tắc nội ngoại tả hữu thượng hạ giai thông dã, kỳ ư chu thân quán thể, hòa nội điều ngoại, vinh tả dưỡng hữu, đạo thượng tuyên hạ, mạc đại ư thử giả dã” (Tam tiêu giữ vai trò chủ quản toàn bộ khí cơ của ngũ tạng lục phủ, doanh vệ kinh lạc, bên trong bên ngoài, trái phải trên dưới; nếu tam tiêu được lưu thông thì tất cả mọi phần trong ngoài, trái phải, trên dưới đều được lưu thông, từ đó có thể dẫn khí khắp toàn thân, điều hòa bên trong và bên ngoài, nuôi dưỡng hai bên trái phải, dẫn khí lên trên và tuyên thông xuống dưới, không gì lớn hơn công năng này). Tam tiêu chính là con đường để khí cơ thăng giáng xuất nhập, nếu được lưu thông thì mới có thể dẫn khí lên trên và tuyên xuống dưới, lúc ấy tâm thận, thủy hỏa, trên dưới mới có thể giao nhau.
Chu Chấn Hanh cũng nói: “Tỳ cụ khôn tĩnh chi đức, nhi hữu càn kiện chi vận, cố năng sử tâm tỳ chi dương giáng, thận can chi âm thăng, nhi thành thiên địa chi giao thái” (Tỳ mang đức tĩnh tại của khôn mà có sự vận động mạnh mẽ của càn, do vậy có thể khiến dương của tâm tỳ giáng xuống, âm của can thận thăng lên, tạo thành thế giao hòa của trời đất).
Trong trường hợp này, hình thể bệnh nhân khỏe mạnh mà mặt đỏ bừng, bồn chồn không yên lại mệt mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng đỏ, lưỡi đỏ, rêu lưỡi nhớt, sáu mạch đều huyền, suốt hơn một tháng luôn cảm thấy bồn chồn bứt rứt không yên, phải đi lại mới chịu được, đại tiện khô, 1 - 3 ngày mới đi một lần, tiểu tiện hơi nhiều. Trạng thái bồn chồn bứt rứt không chịu nổi này chính là biểu hiện của tâm thận không giao nhau, mà tâm hỏa thận thủy không giao tế cũng có nghĩa tam tiêu đang không được thông suốt. Có câu: “Nhân chi hữu sinh, tại vu nhất khí nhi dĩ” (Con người sở dĩ sống được là nhờ một khí duy nhất mà thôi). Nếu khí cơ được lưu thông và thăng giáng có trật tự thì tinh thần an ổn. Trái lại, người này vì can uất khí không thư thái, lại thêm thực tích làm cho trường phủ không thông, dẫn đến âm dương khí huyết nghịch loạn, trọc tà quấy nhiễu bên trên khiến cho thần minh không giữ được mà sinh ra các chứng như vậy.
Lúc này nếu chỉ dùng thuốc sơ can lý khí, giải uất thì thật khó làm cho khí cơ thăng giáng xuất nhập trở nên thông thuận, hơn nữa trong trường vị có thực tà kết ở trong, nhất định phải mở lối trước thì mới cảm thấy dễ chịu, do đó dùng phép thông phủ khoát đàm, để nhiệt tà tự tiêu là thích hợp. Một khi tam tiêu được thông thì phần lớn các chứng sẽ tự lui, tiếp theo là điều chỉnh, thuận theo sự thăng giáng của khí cơ trong cơ thể mà điều trị, như vậy bệnh sẽ được chữa khỏi. Vì vậy dùng qua lâu - vị ngọt tính hàn, sắc đỏ, có hình tròn, bên trong chứa nhiều tân dịch, là vị thuốc tượng trưng cho tâm, có thể thanh nhiệt trừ đàm, khoan hung tán kết mà thông bế tắc ở tam tiêu, đây chính là vị thuốc chủ chốt trong phương thuốc đầu tiên; kết hợp với hoàng liên vị khổ hàn, có thể tiết nhiệt trừ bĩ, thanh trừ tà khí ở vùng ngực; lại thêm bán hạ, vị tân khí bình, có tác dụng ôn táo hóa đàm, tán kết tại vùng hoành cách mô, một vị khổ một vị tân, hợp lại tạo nên tác dụng “tân khai khổ giáng”, quả thật có thể trừ phiền, gột rửa đàm đang tích trệ, khiến khí ở hung trung được hạ giáng, tuy không phải là công kích mạnh mẽ nhưng vẫn có thể phá vỡ vòng vây mà thoát ra.
Chỉ thực có tính trầm mạnh hơn chỉ xác, có khả năng tiêu trướng mãn, tiêu thực tích lâu năm, cạo sạch những tích tụ kiên cố, hóa đàm đặc, phá khí trệ, trừ thấp nhiệt ở vị trung, thanh tương hoả ở tam tiêu, hoả tắt thì âm đủ, ngũ tạng tự yên. Lại thêm phục linh, vị ngọt nhạt, tính bình, là tinh hoa của cây gỗ tùng, được hình thành nhờ khí của thổ, khí vị bình hòa, đứng ở giữa trung thổ và có chức năng là chìa khoá để xoay trục trung tiêu, vừa mang khí xoay chuyển của mộc - có thể điều trị được khí nghịch vùng ngực sườn, vừa có khí của thổ để an ngũ tạng, những chứng do ưu sầu, kinh sợ, hồi hộp cũng từ đó mà yên.
“Đan Khê Tâm Pháp” có nói: “Khí huyết xung hòa, vạn bệnh không sinh, một khi có uất kết thì trăm bệnh sinh ra”. Mộc là tặc (kẻ trộm, gian tà) của ngũ tạng, là đầu mối của trăm bệnh, mọi chứng bệnh đều không tách khỏi việc mộc khí bị uất, khi mộc khí bị uất lại mà không thể sinh, thì bệnh tật sinh ra từ đó. Người bệnh này phát bệnh vào khoảng giờ Sửu, là giờ của can, điều này chứng tỏ chức năng của can đang thất thường, âm dương không điều hòa, khí huyết rối loạn, hỏa khởi phong động chính là như vậy. Vì thế phối hợp thêm sài hồ vị khổ bình hơi hàn, có thể phát biểu hòa lý, và xuyên khung vị tân ôn có thể hành khí hoạt huyết, giúp sơ thông và điều hoà khí huyết, làm cho khí huyết được điều đạt mà bình hòa, hỏa tà ở thiếu dương và quyết âm vì thế mà tán đi, từ đó khiến các triệu chứng dần biến mất.
* Chia sẻ về tường để đọc sau
Để đặt lịch khám tại ĐÀO GIA Y VIỆN, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE/ZALO: 0967536386 hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY.
Quý khách có thể xem thêm bài viết về Ôn Kinh Thang - Trị Bệnh Phụ Khoa đau bụng kinh, máu đen cục, chậm con - ĐÀO GIA Y VIỆN
0 Nhận xét